
Hình ảnh minh họa công nghệ
Công nghệ xử lý bùn thải tạo khí sinh học phát điện (MTR033)
- Công nghệ xử lý bùn thải được phát triển theo hướng tích hợp sinh học – năng lượng, trong đó bùn thải hữu cơ trước hết được đưa vào bể tiền xử lý để điều chỉnh pH và điều kiện môi trường nhằm tối ưu hoạt động của vi sinh vật. Tiếp theo, bùn được xử lý bằng quá trình phân hủy yếm khí, chuyển hóa các chất hữu cơ thành khí sinh học (biogas). Khí sinh ra chứa nhiều tạp chất như CO₂, H₂S nên được làm sạch bằng thiết bị ly tâm tốc độ cao kết hợp dung dịch hấp thụ (KOH), giúp nâng cao chất lượng khí đạt tiêu chuẩn nhiên liệu phát điện. Sau xử lý, biogas được sử dụng để phát điện (khoảng 20 kW), còn phần bã thải tiếp tục được phối trộn tạo phân bón hữu cơ. Công nghệ có ưu điểm rút ngắn thời gian xử lý xuống 15–20 ngày, tăng hiệu suất chuyển hóa và góp phần xây dựng mô hình kinh tế tuần hoàn, giảm ô nhiễm môi trường.
- Điểm mới/Tính độc đáo: Điểm mới và tính độc đáo của công nghệ nằm ở cách tiếp cận tích hợp toàn diện giữa xử lý bùn thải và thu hồi năng lượng, thay vì chỉ xử lý đơn thuần như các hệ thống truyền thống. Công nghệ kết hợp tối ưu hóa điều kiện tiền xử lý với quá trình phân hủy yếm khí nhằm rút ngắn thời gian xử lý xuống còn khoảng 15–20 ngày nhưng vẫn duy trì hiệu suất sinh khí cao. Đặc biệt, việc ứng dụng thiết bị ly tâm tốc độ cao kết hợp dung dịch hấp thụ KOH để làm sạch khí sinh học là giải pháp cải tiến, giúp loại bỏ hiệu quả CO₂ và H₂S, nâng cao chất lượng biogas đủ tiêu chuẩn phát điện ổn định. Đồng thời, mô hình tận dụng triệt để các dòng vật chất khi chuyển hóa phần bã sau xử lý thành phân bón hữu cơ, hình thành chu trình khép kín theo hướng kinh tế tuần hoàn. Nhờ đó, công nghệ không chỉ giảm tải ô nhiễm bùn thải mà còn gia tăng giá trị tài nguyên và hiệu quả kinh tế.
Công nghệ này đã được cấp 01 bằng ĐQCH (Số 32321) cho thiết bị làm sạch khí biogas, 01 GPHI cho quy trình làm sạch khí (số 2737) và 01 GPHI cho quy trình xử lý bùn thải hữu cơ sản xuất khí sinh học và phân hữu cơ (số 2538)